Tìm lại kí ức nơi Cánh đồng chum Xiengkhuang

Thứ năm - 09/07/2026 09:43 19 0
Bút ký
Tìm lại kí ức nơi Cánh đồng chum Xiengkhuang



Từ trên cao nhìn về thị xã Phonesavan, thủ phủ tỉnh Xiengkhuang

Khói hương bảng lảng bay lên giữa không gian tĩnh lặng. Đoàn cựu chiến binh quân tình nguyện và chuyên gia quân sự Việt Nam giúp cách mạng Lào lặng lẽ đi giữa những hàng mộ. Mỗi người cầm trên tay một nén hương. Mỗi bước chân như chậm lại.
Trước những tấm bia đã ngả màu thời gian, nhiều cựu chiến binh cúi xuống thật lâu như đang trò chuyện với những đồng đội thân quen.
Có người khẽ đọc tên ai đó. Có người lặng lẽ đặt bàn tay lên bia mộ. Có người đứng nghiêm chào theo điều lệnh quân đội rồi quay mặt đi lau nước mắt.
Trong đoàn hôm ấy có cựu chiến binh Nguyễn Lương Đại (Nghệ An), Nguyễn Như Tú và Hồ Văn Dũng (Thanh Hóa). Ba người lính từng có những năm tháng chiến đấu trên đất nước Triệu Voi.
Đứng trước anh linh đồng đội tại Nghĩa trang Liệt sĩ Việt Lào- Anh Sơn, Nghệ An, họ thắp nén hương thơm rồi lặng lẽ khấn nguyện:
"Chúng tôi sắp trở lại chiến trường xưa. Trở lại những nơi các anh đã từng chiến đấu. Chúng tôi cúi đầu xin các anh hãy dẫn đường cho chúng tôi tìm lại những dấu tích năm xưa..."

Lời khấn ấy theo chân đoàn vượt dãy Trường Sơn sang nước bạn Lào qua Cửa khẩu Quốc tế Nậm Cắn.




Cựu chiến binh Nguyễn Như Tú thỉnh chuông tại Nghĩa trang liệt sĩ Quốc tế Việt Lào- Anh Sơn, Nghệ An


Về lại xứ sở còn bao đồng đội vẫn chưa về

Chiếc xe chở đoàn cựu chiến binh quân tình nguyện và chuyên gia quân sự Việt Nam giúp cách mạng Lào của tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An, lặng lẽ men theo những con đường uốn lượn giữa núi rừng. Ngoài cửa kính, những thung lũng mờ sương hiện ra rồi khuất dần sau các triền núi, làm tôi nhớ ký ức một bạn văn từng viết về “Xiêng Khoảng mù sương”. Đúng vậy, mùa này bên ta nắng như đổ lửa nhưng bên nước bạn buổi tối nhiệt độ xuống 18 độ c, nghĩa là lạnh như mùa đông. Bất chợt, ba người lính già cùng nhìn về phía những dãy núi xa xanh biếc cùng biển mây ôm trọn chân núi.  Xe dừng, ba người lính khoác vai nhau, nhìn về phía núi gọi “Đồng đội ơi, các anh ở đâu?”
Đó là cựu chiến binh Nguyễn Lương Đại, quê Hưng Nguyên, Nghệ An; cựu chiến binh Nguyễn Như Tú và Hồ Văn Dũng, quê Thanh Hóa.

Tôi đã nhiều lần gặp họ trong các cuộc họp mặt đồng đội. Nhưng chưa bao giờ thấy ánh mắt họ nhiều cảm xúc như lúc này.

Không ai bảo ai. Đôi mắt cả ba người đều đỏ hoe. Trước mặt họ là những dãy núi từng in dấu chân tuổi trẻ. Là nơi đồng đội của họ đã sống, chiến đấu và nhiều người đã nằm lại mãi mãi.

Chiếc xe dừng lại bên một khoảng đất cao. Cựu chiến binh Nguyễn Lương Đại (quê Nghệ An) bước xuống trước. Người lính già đứng rất lâu nhìn về phía đại ngàn hun hút. Gió núi thổi tung mái tóc. Đôi mắt ông như xuyên qua những lớp mây mờ để tìm về một thời tuổi trẻ. Rồi bất ngờ ông chụm hai bàn tay trước miệng.

Tiếng gọi bật ra từ tận đáy lòng:

– Đồng đội ơi... Chúng tôi trở lại đây rồi... Các bạn đang nằm ở đâu?

Tiếng gọi vang lên giữa không gian mênh mông. Âm thanh ấy dội vào vách núi rồi tan vào những cánh rừng xa.

Không có lời đáp.

Chỉ có tiếng gió thổi qua tán cây. Tiếng lá rừng xào xạc như lời thì thầm từ một thế giới khác. Những người đứng cạnh đều lặng đi. Có người quay mặt thật nhanh để giấu những giọt nước mắt.

Bởi họ hiểu, tiếng gọi ấy đã được nén lại suốt nửa thế kỷ cuộc đời họ.

Nhắc đến những ngày đầu ra trận, cựu chiến binh Nguyễn Lương Đại cười hiền nhưng ánh mắt vẫn đượm vẻ trầm tư.

Ông kể, hồi đó mình cũng như bao chàng trai mười tám đôi mươi khác, khi lần đầu bước vào chiến trường, thật lòng là tôi rất sợ. Ngày đó cứ nghe đơn vị nào đi chiến đấu là thương vong nhiều, người trở về rất ít. Nhiều đêm nằm trong rừng, nghĩ đến cái chết cũng thấy lo lắm...", ông tâm sự. Nhưng rồi chiến trường đã rèn giũa những người lính trẻ trưởng thành. Sau những cuộc hành quân, những trận đánh và đặc biệt là khi chứng kiến đồng đội ngã xuống, cảm giác lo sợ trong ông dần nhường chỗ cho một tình cảm khác mạnh mẽ hơn - Đó là tình đồng đội.
Ông Đại kể, có những đồng đội tối hôm trước còn ngồi quanh bếp lửa, kể chuyện người yêu, chuyện mùa gặt ở quê nhà, hẹn ngày hòa bình sẽ trở về xây dựng cuộc sống mới. Có người mới hôm qua còn cùng chia nhau điếu thuốc, cùng gùi đạn vượt núi, vậy mà hôm nay đã vĩnh viễn ở lại với đại ngàn.  Không kịp một lời từ biệt, không kịp gửi về quê nhà một lá thư.
Ông nhớ, mỗi lần đơn vị có người hy sinh, không khí doanh trại lại lặng đi. Những người lính trẻ ngồi bên nhau suốt đêm, nhắc về người đồng đội vừa nằm xuống, cùng tìm hiểu quê nó ở đâu, nhớ thật kĩ để sau này đất nước hòa bình còn tìm nó về.
Chính những mất mát ấy đã biến đau thương thành sức mạnh.

"Ngày ấy cứ nghe tin đồng đội hy sinh là anh em ai cũng sôi lên. Không ai còn nghĩ đến sợ hãi nữa. Tất cả đều chỉ có một suy nghĩ là phải chiến đấu, phải hoàn thành xuất sắc nghĩa vụ Quốc tế cao cả, phải đánh thắng để trả thù cho đồng đội". Ông Đại xúc động kể.

Những năm tháng tuổi trẻ, ông đã gắn liền với những cuộc hành quân xuyên rừng, vượt núi qua Muang Kham, Phonsavanh, Muang Cha, Vang Vieng.
Trong chuyến trở về chiến trường xưa lần này, cựu chiến binh Nguyễn Lương Đại không đi một mình. Bên cạnh ông là nhà giáo Lê Hương – người bạn đời đã đồng hành cùng ông qua bao thăng trầm của cuộc sống.

Suốt hành trình trên đất Lào, cô giáo Hương lặng lẽ theo bước chồng đến từng địa danh, từng cánh rừng, từng điểm cao nơi ông và đồng đội từng chiến đấu năm xưa và tôi trộm thấy cô đã lau nước mắt rất nhiều. Có những lúc đứng nghe các cựu chiến binh kể chuyện chiến trường, đôi mắt chị đỏ hoe theo từng câu chuyện.

Tôi hỏi vui:

– Chị có thấy vất vả không khi theo các anh trở lại những nơi xa xôi, đường sá lắt léo gập gềnh thế này?

Cô giáo Hương mỉm cười hiền hậu, nhìn sang người chồng rồi trả lời rất giản dị:

– Tôi yêu anh Đại và lấy anh Đại vì anh ấy là lính. Tôi yêu anh bộ đội Cụ Hồ, thế thôi!

Câu nói ngắn gọn khiến mọi người trong đoàn xúc động. Không phải ai cũng hiểu hết những năm tháng gian khổ mà người lính đi qua. Và càng không phải ai cũng đủ bao dung, sẻ chia để đồng hành cùng nhau suốt cuộc đời như nhà giáo Lê Hương và người lính Nguyễn Lương Đại.

Chiều muộn ở Xiêng Khoảng, khi ông Đại đứng lặng hướng về những dãy núi xa mờ gọi tên đồng đội, cô giáo Hương lặng lẽ đứng phía sau. Không nói một lời. Ánh mắt chị như muốn chia sẻ cùng chồng tất cả những nỗi nhớ, niềm thương dành cho những người đã nằm lại. Hai người đứng bên nhau bỗng trở thành một biểu tượng đẹp rất đỗi bình dị giữa núi non trùng điệp Xứ Lào.
Người lính trẻ năm ấy giờ đã là Đại tá nghỉ hưu của Bộ Tham mưu Quân khu 4.




Cựu chiến binh Nguyễn Lương Đại cùng vợ thăm Cánh đòng chum Xiengkhuang


Ký ức người lính chạm đến những cảm xúc khó tả


Khi đoàn đến Cánh đồng Chum, cựu chiến binh Nguyễn Như Tú (quê Thanh Hóa) lặng lẽ tách mọi người. Ông bước chậm giữa những chum đá cổ kính nằm im lìm dưới nắng chiều xói vào mặt. Ông dừng lại trước một chiếc chum lớn phủ đầy rêu phong, bàn tay run run chạm vào mặt đá lạnh lùng ngàn năm.
Rất lâu sau ông mới cất tiếng:
– Hồi ấy đơn vị tôi chiến đấu ở đây... Giọng ông nghẹn lại.– Nhiều anh em hy sinh lắm... Nói đến đó, nước mắt ông trào ra. Ông cúi đầu thật thấp. Đôi vai khẽ rung lên.

Có lẽ trong khoảnh khắc ấy, những đồng đội năm xưa đã trở về trong ký ức ông nguyên vẹn như thuở nào.  Bên những chum đá của thời gian, trên chiến trường xưa, cựu chiến binh Nguyễn Như Tú kể cho chúng tôi nghe một kỷ niệm xúc động và là câu chuyện có thật. Đó là lần ông cùng đồng đội tham gia quy tập hài cốt liệt sĩ quân tình nguyện Việt Nam tại các chiến trường Lào để đưa về Tổ quốc.
Hôm ấy, sau khi cất bốc được hài cốt một số liệt sĩ tại vùng núi xa hiểm trở, đoàn xe bắt đầu hành trình trở về. Khi đến một đoạn dốc vắng giữa rừng sâu, chiếc xe chở hài cốt bất ngờ chết máy. Tài xế cùng mọi người xuống kiểm tra. Máy móc vẫn bình thường. Nhiên liệu vẫn còn. Thế nhưng khởi động nhiều lần xe vẫn không nổ máy, ai nấy đều sốt ruột lo lắng.

Giữa núi rừng tĩnh lặng, ông Tú và một số đồng đội bỗng nghĩ đến những liệt sĩ đang nằm trên xe. Mọi người bàn nhau thắp nén hương, đứng nghiêm trang trước xe thành kính khấn cầu:
"Các anh ơi, hôm nay chúng tôi đón các anh về với đất mẹ. Nếu có điều gì chưa chu toàn, xin các anh phù hộ để đoàn hoàn thành nhiệm vụ ạ."

Khói hương bay lên giữa núi rừng lộng gió. Sau lễ thắp hương, mọi người quay lại thử khởi động xe một lần nữa. Điều khiến ai cũng ngạc nhiên là động cơ bỗng nổ máy bình thường. Từ đó đến hết hành trình, đoàn xe đi thuận lợi, an toàn về đến nơi tập kết.

Kể đến đây, cựu chiến binh Nguyễn Như Tú trầm ngâm:

"Tôi là người lính, mọi việc đều nhìn bằng thực tế. Nhưng chuyện hôm ấy đến giờ tôi vẫn nhớ mãi. Có những điều tâm linh khó lý giải hết bằng lời. Chúng tôi chỉ nghĩ rằng các đồng đội đã hy sinh luôn dõi theo những người còn sống."




Với những người lính năm xưa, Cánh đồng Chum không chỉ là một di tích hay điểm đến du lịch


Trở lại Cánh đồng Chum hôm nay, mỗi người mang theo một tâm thế khác nhau. Với du khách, đó là hành trình khám phá một quần thể chum đá kỳ bí hàng nghìn năm tuổi, nơi lưu giữ bao điều còn chưa được giải mã giữa cao nguyên Xiengkhuang (Xiêng Khoảng). Họ ngắm nhìn những chiếc chum khổng lồ với sự tò mò, thích thú trước vẻ đẹp của một di sản độc đáo của xứ Lào.

Còn với những người lính năm xưa, Cánh đồng Chum không chỉ là một di tích hay điểm đến du lịch. Mỗi quả đồi, mỗi triền cỏ, mỗi vạt rừng nơi đây đều chất chứa ký ức của những tháng năm bom đạn và sự hy sinh. Họ trở lại không phải để tìm sự kỳ bí của những chiếc chum đá, mà để tìm về những dấu chân đồng đội, những trận đánh đã đi vào lịch sử và những người mãi mãi nằm lại giữa đại ngàn.

Cựu chiến binh Nguyễn Như Tú thuộc về thái cực ấy. Ánh mắt ông không dừng lâu trên những chiếc chum cổ nổi tiếng, mà lặng lẽ hướng về những sườn đồi từng là trận địa của Sư đoàn 316. Nơi ấy, mùa mưa năm 1972, ông bị thương hai lần nhưng đều xin trở lại đơn vị để tiếp tục chiến đấu dưới lá cờ Quyết thắng cho đến ngày toàn thắng 30/4/1975. Hơn nửa thế kỷ đã trôi qua, điều khiến ông đau đáu nhất vẫn là người đồng đội cùng quê – liệt sĩ Nguyễn Thái Bình – đã hy sinh trong một trận đánh tại Cánh đồng Chum. Đến nay, sau hơn 50 năm, hài cốt của anh vẫn chưa được tìm thấy.

Vì thế, mỗi bước chân trở lại Xiêng Khoảng đối với ông không chỉ là một chuyến đi của ký ức, mà còn là một cuộc trở về để gọi đồng đội giữa đại ngàn, với niềm mong mỏi một ngày nào đó những người đã ngã xuống sẽ được trở về trong vòng tay đất mẹ.

Ông ngước nhìn về phía những dãy núi xa mờ, nơi ấy vẫn còn biết bao đồng đội đang nằm lại chưa được tìm thấy. Và với những người lính như ông, mỗi chuyến đi tìm kiếm, quy tập hài cốt liệt sĩ không chỉ là một nhiệm vụ mà còn là cuộc hành trình nghĩa tình,  thực hiện lời hứa đưa đồng đội trở về sau nhiều năm xa đất mẹ.
Ông quê Thanh Hóa, xung phong nhập ngũ cuối năm 1971, khi chưa đủ mười tám tuổi. Năm 1972, ông tham gia Chiến dịch Z giải phóng Cánh đồng Chum – Xiêng Khoảng trong đội hình D2, E174, F316. Những cái tên Samthong, Longcheng, cao điểm 1978, 1800, 1516 đến nay vẫn còn in đậm trong ký ức. Đối với ông, đó là những địa danh đã đi vào lịch sử, là nơi những người lính Việt Nam và Pathet Lào đã kề vai sát cánh chiến đấu chống lại kẻ thù chung.
Ông kể, có những thời điểm đơn vị phải nằm chốt nhiều tháng liền trong rừng sâu, chờ thời cơ chiến đấu. "Khổ nhất là thiếu lương thực", ông chậm rãi nhớ lại.
Những cánh rừng già bạt ngàn của Xiêng Khoảng vừa là nơi che chở bộ đội, vừa là thử thách khắc nghiệt đối với sức chịu đựng của người lính. Có thời gian đơn vị ông phải sống giữa rừng suốt ba tháng trời mới nhận được một đợt tiếp tế do địch kẹp chặt. Gạo cạn, muối hết. Những người lính trẻ phải đào củ, hái rau rừng, tìm măng non để chống đói, động viên nhau cố gắng bám trụ trận địa.

Là người nhanh nhẹn và có kinh nghiệm đi rừng, nhiều lần ông Tú được đơn vị giao nhiệm vụ xuống các bản làng vận động nhân dân giúp đỡ lương thực. Ông vẫn nhớ như in hình ảnh những bà mẹ, những người dân Lào nghèo khó sẵn sàng sẻ chia từng củ sắn, bắp ngô cho bộ đội Việt Nam.

"Có những gia đình cuộc sống còn rất thiếu thốn nhưng vẫn nhường cho chúng tôi những củ sắn cuối cùng. Tình cảm của nhân dân Lào dành cho bộ đội Việt Nam lúc đó khiến chúng tôi suốt đời không quên", ông xúc động kể.

Nhưng ký ức sâu đậm nhất trong cuộc đời binh nghiệp của ông có lẽ là hai lần đối mặt với tử thần - Hai lần bị thương, đó là những khoảnh khắc đứng giữa ranh giới mong manh của sự sống và cái chết.

Có lần mảnh đạn găm vào người khiến ông ngất lịm giữa trận địa. Đồng đội tưởng ông không qua khỏi. Thế nhưng bằng ý chí của người lính và sự cứu chữa tận tình của quân y, ông đã vượt qua.

Có lần khác, sau một trận đánh ác liệt, ông bị thương nặng nhưng vẫn cố bám đội hình chiến đấu đến phút cuối cùng.

"Đến bây giờ nghĩ lại, tôi thấy mình may mắn hơn rất nhiều đồng đội. Tôi còn được trở về, còn được gặp gia đình, con cháu. Còn nhiều anh em mãi mãi nằm lại trên những cánh rừng này...", ông nghẹn ngào.

Nói đến đó, người lính già lặng đi. Ánh mắt hướng về những dãy núi xa xanh thẳm của Xiêng Khoảng như đang tìm kiếm bóng hình những đồng đội năm xưa.

Nửa thế kỷ đã trôi qua, với thời gian thì quá ngắn nhưng với đời người thì quá dài. Những vết thương trên cơ thể đã thành sẹo. Nhưng ký ức về những tháng ngày đói rét, gian khổ và đặc biệt là hình ảnh những đồng đội đã hy sinh vẫn còn nguyên vẹn trong trái tim người lính tình nguyện năm nào.


Chuyến trở về là cuộc hẹn với đồng đội


Đi phía sau đoàn là cựu chiến binh Hồ Văn Dũng, người rất kiệm lời trong chuyến đi. Ông sang chiến trường Lào tháng từ 10 năm 1974. Con đường từ quê hương sang đất bạn khi ấy chủ yếu là đi bộ và chưa có đường như bây giờ. Đoàn quân vượt Cửa khẩu Nậm Cắn, băng qua những cánh rừng già, leo hết dốc này đến dốc khác. Có ngày hành quân từ sáng đến tối mịt, bàn chân phồng rộp đến bật máu.
Có những đêm ngủ giữa rừng sâu, chung quanh chỉ có tiếng côn trùng và tiếng gió hú từ các vách núi. Ông từng đóng quân ở dốc Mã Tử, khu vực đèo Phỉ thuộc Phou Kut. Cuối năm 1975 lại vào Nậm Pết xây dựng doanh trại cho quân đội Pathet Lào.
Rồi năm 1977, khi lực lượng phỉ Vàng Pao từ bên kia biên giới quay lại chống phá chính quyền cách mạng, Trung đoàn 335 tiếp tục được điều động sang đất bạn.




Cựu chiến binh Hồ Văn Dũng kính cẩn đọc diễn văn tưởng niệm đồng đội tại Đài tưởng niệm Liệt sĩ Liên quân Việt Lào tỉnh Xiengkhuang



Cựu chiến binh Việt Lào cùng dâng hương tưởng niệm các liệt sĩ

Những địa danh Salaphoukhoun, bản Son, Muang Cha, Phou He quen thuộc gợi lại những kí ức mới nguyên trong ông. Ông nhớ từng con dốc, khe suối. Nhớ từng hốc đá nơi đồng đội trú quân. Và nhớ nhất là những người đã mãi mãi nằm lại. Nhìn về phía Phou Bia, ngọn núi từng được coi là căn cứ cuối cùng của lực lượng phỉ Vàng Pao chống phá cách mạng Lào, ông Dũng đứng lặng rất lâu.

Rồi ông từ từ đưa tay lên và thực hiện động tác chào theo điều lệnh quân đội.

Một cái chào thật chậm. Thật trang nghiêm. Giữa mênh mông núi rừng.

Đó là lời chào của người còn sống gửi tới những đồng đội đã hóa thân vào đất mẹ Lào anh em.
Trong hành trình trở lại chiến trường xưa, cựu chiến binh Hồ Văn Dũng luôn sánh bước bên người đồng đội cùng tiểu đội năm nào của mình là ông Nguyễn Lương Đại.

Nửa thế kỷ đã trôi qua nhưng hai người lính vẫn thường xuyên liên lạc, người ở Nghệ An, kẻ Thanh Hóa đã cùng hẹn nhau tham gia chuyến đi này. Ông Dũng bảo, trong đoàn ít ai biết rằng để có mặt trong chuyến trở về chiến trường xưa lần này, cựu chiến binh Nguyễn Lương Đại đã phải đắn đo rất nhiều.

Ở quê nhà Hưng Nguyên, Nghệ An, người mẹ già của ông tuổi đã ngoài chín mươi, sức khỏe yếu sau cơn tai biến, cần người chăm sóc hằng ngày. Là người con luôn hết lòng phụng dưỡng mẹ, ông từng nghĩ mình khó có thể tham gia chuyến đi.

Nhưng rồi khi người đồng đội cùng tiểu đội năm xưa là Hồ Văn Dũng gọi điện  bàn chuyện trở lại đất Lào, cả hai đều không giấu được sự bồi hồi. Bởi họ đã cùng nhau trải qua những năm tháng tuổi trẻ trên chiến trường nước bạn. Cùng hành quân dưới những cánh rừng đầy gian khổ, cùng chia nhau từng ngụm nước, nắm cơm. Cùng hứa với đồng đội ai còn sống sẽ trở lại tìm nhau về.

Nửa thế kỷ đã đi qua. Ai cũng hiểu rằng tuổi tác không chờ đợi ai. Sức khỏe ngày một giảm sút nên chuyến đi là dịp khó khăn nhất.
Hai người quyết tâm: "Không biết còn cơ hội nào nữa, chỉ mong được trở lại một lần, nhìn lại chiến trường xưa, thắp cho đồng đội một nén hương là lòng mãn nguyện." Chính suy nghĩ ấy đã thôi thúc ông Đại sắp xếp việc gia đình, nhờ người thân chăm sóc mẹ già để cùng ông Dũng lên đường.

Suốt hành trình trên đất Lào, hai người đồng đội gần như không rời nhau nửa bước. Họ cùng tìm lại những địa danh quen thuộc. Cùng nhắc tên những đồng đội đã khuất. Cùng kể cho nhau nghe những câu chuyện tưởng như đã bị thời gian phủ bụi. Có những lúc đứng trên đỉnh đèo nhìn xuống thung lũng mênh mông, cả hai chỉ lặng im. Bởi trước mắt họ không chỉ là núi rừng nước bạn hôm nay, mà còn là cả một trời ký ức của tuổi hai mươi hiện về.






Đối với những người lính già ấy, chuyến trở về không phải là một cuộc du ngoạn – Mà đó là cuộc hẹn với đồng đội. Là cuộc trở về với một phần đời không thể nào quên.
Có lẽ vì coi đây là cuộc trở về để thực hiện lời hứa với đồng đội nên dù tuổi đã cao, nhiều cựu chiến binh vẫn quyết tâm tham gia hành trình về nguồn trên đất Lào. Trong đoàn hôm ấy có cựu chiến binh Đỗ Văn Thành, 86 tuổi, nguyên chiến sĩ Sư đoàn 316; cựu chiến binh Nguyễn Xuân Huề, 77 tuổi, nguyên chiến sĩ Sư đoàn 316 và bà Đỗ Thị Hoa, 77 tuổi, nguyên chiến sĩ Đoàn 959, cùng nhiều cựu chiến binh khác tuổi đã ngoài bảy mươi, tám mươi. Khi đặt chân lên những địa danh từng gắn bó một thời, ánh mắt ai cũng ánh lên niềm xúc động đặc biệt. Bởi hơn ai hết, họ hiểu rằng thời gian dành cho những cuộc trở về như thế này không còn nhiều nữa. Họ tâm sự rằng, điều day dứt nhất suốt cuộc đời họ là chỉ cần trở về một lần nơi đồng đội đã ngã xuống cũng mãn nguyện lắm rồi. Ngày hòa bình lập lại, mỗi người một hoàn cảnh, một công việc, một cuộc sống riêng. Những dự định trở lại chiến trường xưa cứ lần lượt lùi xa theo năm tháng. Cho đến hôm nay, khi tuổi đã ở bên kia dốc cuộc đời, họ mới có cơ hội thực hiện tâm nguyện ấy nên thật quý giá.

Cựu chiến binh Đỗ Văn Thành xúc động nói:

"Chúng tôi trở về không phải để tìm lại chiến công của mình. Chúng tôi trở về để thắp một nén hương lòng cho những đồng đội đã nằm lại. Nhiều người trong số họ mãi mãi tuổi đôi mươi. Tôi chỉ cần một lần trở về đây đã là mãn nguyện trong đời, dù có chết tôi cũng không ân hận".

Câu nói mộc mạc rất đỗi bình thường, không phải lên gân khoa giáo khiến nhiều người lặng đi. Bởi hành trình xuyên qua những cánh rừng Xiêng Khoảng, Xaysomboun, Oudomxay  hay Vientiane thực chất là hành trình đi tìm ký ức, đi tìm một phần tuổi trẻ đã gửi lại nơi đất nước Triệu Voi. Và cũng là thực hiện lời hứa năm nào của những người lính còn sống, với những đồng đội đã hy sinh: Rằng dù chiến tranh đã lùi xa, dù tóc có bạc trắng theo năm tháng, họ vẫn sẽ nhớ, vẫn sẽ trở về, vẫn sẽ gọi tên đồng đội giữa đại ngàn như ngày nào. Và cũng có thể là lần cuối cùng họ được tận mắt nhìn lại những cánh rừng, ngọn núi đã gắn bó với tuổi trẻ của mình. Bởi thế, từng bước chân trên đất Lào lần này đều được họ nâng niu như một món quà quý giá của cuộc đời dành tặng mình. Muốn để nhắc nhớ thế hệ hai nước hôm nay rằng, dưới màu xanh bình yên của núi rừng Lào có biết bao người lính Việt Nam vẫn đang lặng lẽ nằm lại, góp phần viết nên bản anh hùng ca bất tử về tình đoàn kết chiến đấu đặc biệt Việt Nam - Lào.

Những người lính ấy đã hóa thân vào đất, vào rừng, vào mây trắng đại ngàn nhưng họ chưa bao giờ khuất xa trong trái tim đồng đội.


Lang Quốc Khánh
 

Tổng số điểm của bài viết là: 1 trong 1 đánh giá

Xếp hạng: 1 - 1 phiếu bầu
Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

ứng dụng khcn
Thống kê truy cập
  • Đang truy cập43
  • Hôm nay3,254
  • Tháng hiện tại102,518
  • Tổng lượt truy cập4,638,168
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây