Tôi quen thân anh Singthong Singhapannha (tên tiếng Việt là Việt Sơn Cường) từ những ngày còn làm việc tại cơ quan báo chí Việt Nam thường trú tại Lào. Khi ấy, với tôi, anh đơn giản là một người Lào gốc H’Mông, một tiến sĩ từng tốt nghiệp tại Việt Nam và nói tiếng Việt rất sõi, gần như không có khoảng cách ngôn ngữ với những người Việt mà anh thường gặp. Anh là Trưởng ban phụ trách Bảo tàng Kaysone Phomvihane và các di tích về các vị lãnh tụ cách mạng Lào. Công việc của tôi khi đó thường xuyên đưa các đoàn Việt Nam đến tham quan bảo tàng, tìm hiểu những di tích lịch sử cách mạng của Lào về mối quan hệ đặc biệt Việt Nam – Lào. Từ những lần gặp gỡ ấy, chúng tôi dần trở nên thân thiết.
Một lần trò chuyện, anh bất ngờ bộc bạch một điều khiến tôi sững sờ: anh chính là con trai của một người lính Cụ Hồ từng sang giúp cách mạng Lào từ những ngày đầu gian khó. Rồi anh nhắc đến nguồn cội của mình – một cái tên tưởng như rất đỗi bình thường mà với anh lại thiêng liêng suốt một đời: Quê anh, làng Vĩnh Lộc, Phùng Xá, Thạch Thất, Hà Nội. Anh còn nói họ tên Việt của mình là Việt Sơn Cường.
Tôi lặng đi. Hóa ra, phía sau người đàn ông Lào gốc H’Mông, vị Tiến sĩ từng học tập ở Việt Nam và nói tiếng Việt như người bản xứ mà tôi vẫn gặp hằng ngày là một người có dòng máu Việt Nam.
Và từ khoảnh khắc ấy, tôi hiểu rằng câu chuyện mình sắp được nghe không chỉ là chuyện của một gia đình.
Hành trình đến với đất nước Triệu Voi
Bố anh Cường, ông Đỗ Văn Tùng, sinh năm 1920 tại làng Vĩnh Lộc, Phùng Xá, Thạch Thất, Hà Nội. Mồ côi cha mẹ từ nhỏ, ông phải đi ở cho địa chủ, rồi làm thuê đủ nghề để kiếm sống. Giữa những ngày Cách mạng Tháng Tám cuộn trào, cuộc đời người thanh niên nghèo ấy rẽ sang một hướng khác. Ông bước vào hàng ngũ cách mạng, tham gia lực lượng Tự vệ chiến đấu Hoàng Diệu ở Hà Nội. Sau đó, ông được tuyển đưa đi huấn luyện quân sự tại tỉnh Thái Nguyên.
Cuối năm 1945, ông theo đoàn quân Nam Tiến đầu tiên vào hoạt động tại Đường 9 – Nam Lào với một địa bàn rộng lớn từ Khe Sanh (Quảng Trị) sang Sê Pôn (Savannakhet) của Lào.
Theo lời kể của ông Ngô Thế Sơn (đồng đội ông), ngày 14/6/1946, Đỗ Văn Tùng được kết nạp Đảng Cộng sản Đông Dương, trong dịp thành lập Đội biệt động Khe Sanh, sinh hoạt trong Chi bộ Trần Phú – chi bộ của những người lính tình nguyện Việt Nam.
Cũng theo ông Ngô Thế Sơn, trong quá trình hoạt động cách mạng, Đỗ Văn Tùng mang biệt danh Việt Sơn Hùng. Khi sang hoạt động trong vùng đồng bào H’Mông ở Lào, ông mang tên H’Mông là Sing Hùng Giàng (Singhoung Giang), một cái tên gắn với cộng đồng người H’Mông nơi ông hoạt động.
Từ đó, một người lính Việt Nam có thêm một cái tên rất Lào. Cũng từ đó, cuộc đời ông bắt đầu gắn với một miền đất mà về sau ông nhận là quê hương thứ hai.
“Vậy vì sao anh không nói anh là người Lào gốc Việt?”, tôi hỏi anh Cường.
Anh trầm ngâm hồi lâu. Câu hỏi dường như chạm vào một miền ký ức mà suốt bao năm anh vẫn cất giữ. Rồi anh chậm rãi kể: bản thân bố anh cũng chưa bao giờ nói với ai rằng mình là người Việt Nam, rằng quê gốc của ông ở Hà Nội, ở một làng quê cụ thể của Thạch Thất. Có lẽ, theo anh, bởi công việc của bố mình khi ấy đòi hỏi phải tuyệt đối bí mật.
Tôi hiểu. Trong những năm tháng ấy, đã có biết bao người lính Cụ Hồ sang giúp cách mạng Lào, đảm nhận những công việc khác nhau, nhiều người trong số họ phải sống, chiến đấu và hoạt động trong im lặng. Có những cái tên được ghi vào lịch sử, nhưng cũng có những cuộc đời, những thân phận phải gửi lại cho thời gian.
Tôi chợt nhớ đến câu chuyện một cô gái Thái Lan tên là Mik Sihaphon, sang Lào, lấy chồng và định cư ở thủ đô Vientiane. Có lần cô ấy nói với tôi: “Cháu là dòng máu Việt đấy, nhưng cháu không biết quê hương, bản quán của mình ở đâu”. Mẹ cháu kể, cha cháu ngày trước là một cán bộ tình báo Việt Nam hoạt động ở vùng Đông Bắc Thái Lan tại các tỉnh Nongkhai, Oudon Thani. Trong những năm tháng chiến tranh chống Mỹ, ông làm nhiệm vụ cung cấp những thông tin quan trọng về tình hình sân bay U-Tapao cho cách mạng. Đến khi ông hy sinh, những bí mật về cuộc đời ông cũng theo đó chìm vào im lặng của thời gian, để rồi người con chỉ còn biết mình mang trong huyết quản dòng máu Việt Nam. Nhưng quê cha ở đâu, người thân là ai, nguồn cội bắt đầu từ nơi nào… thì cháu không thể biết tìm về đâu.
Tôi nghĩ, có lẽ câu chuyện của anh Singthong cũng nằm trong những khoảng khuất như thế. Chiến tranh có những điều buộc con người phải giữ kín. Nhưng thời gian thì cứ lặng lẽ trôi và những bí mật của một thế hệ cũng có thể mất theo.
Người con của mối lương duyên Việt – Lào
Bí danh mà tổ chức đặt cho bố anh mang một ý nghĩa rất đặc biệt: Việt Sơn Hùng – nghĩa là người hùng của đất Việt vượt dãy Trường Sơn sang giúp bạn Lào. Cái tên gợi lời nhắc về sứ mệnh của một thế hệ người lính Cụ Hồ thực hiện lời dạy của Bác: “Giúp bạn cũng là giúp chính mình”. Ông đã kinh qua nhiều mặt trận, từ Đường 9 – Nam Lào đến các vùng chiến trường ác liệt ở Xiêng Khoảng. Đặc biệt, ông gắn bó lâu dài với những bản làng người H’Mông – nơi từng có nhiều thế lực thổ phỉ hoạt động. Ở đó, ông không chỉ đến rồi đi theo những cuộc hành quân mà ở lại sống giữa dân, ăn cùng dân, chia sẻ với dân và làm cách mạng bằng chính sự gắn bó, tin cậy được gây dựng qua từng ngày. Giữa những năm tháng chiến tranh gian khổ, thiếu thốn và đầy biến động, người lính Việt Nam Việt Sơn Hùng, khi ấy mang tên H’Mông Sing Hùng Giàng, đã nên duyên với một phụ nữ dân tộc H’Mông – Lào.
Từ mối lương duyên giữa những năm tháng khói lửa ấy, vợ chồng ông lần lượt có 10 người con. Ông đặt tên cho các con là: Việt Thị Tiến, Việt Thị Thịnh, Việt Thị Trường, Việt Sơn Cường (Singthong), Việt Sơn Quang, Việt Sơn Vinh, Việt Sơn Minh. Riêng hai người con thứ tám và thứ chín không mang họ “Việt” mà mang họ Lào, còn người con thứ mười là cô gái có cái tên Mai Hương. Có lẽ khi đặt những cái tên ấy, ông không thể nói với các con quá nhiều về quê hương của mình, nhưng ông vẫn tìm một cách để gửi lại trong đó một phần cội nguồn. Trong số những người con ấy có Tiến sĩ Singthong Singhapannha (Việt Sơn Cường), nguyên Trưởng ban phụ trách Bảo tàng Kaysone Phomvihane và các di tích về các vị lãnh tụ cách mạng Lào. Anh từng nói về mình bằng một câu rất giản dị: “Tôi được sinh ra từ mối lương duyên Việt – Lào”, và anh luôn tự hào về điều đó. Anh kể, có lần anh hỏi mẹ: Vì sao mẹ là người H’Mông Lào lại lấy một người Việt Nam?
Mẹ anh trả lời hồn nhiên:“Vì ba con là người của cách mạng.”
Một câu nói chân chất, không nhắc đến khác biệt dân tộc, ngôn ngữ hay phong tục, với bà, lấy người đàn ông ấy làm chồng vì trước hết ông ấy là người của cách mạng.

Ông học tiếng H’Mông và nói tiếng H’Mông thành thạo. Những năm tháng sống giữa đồng bào đã khiến người lính Việt Nam dần trở nên thân thuộc như một người con của bản làng. Sau này, khi về nghỉ hưu ở Nọng Hét, Xiêng Khoảng, hầu như người H’Mông nào cũng biết ông. Người ta nhớ đến ông không chỉ bởi ông từng là cựu chiến binh gương mẫu, mà bởi ông là một thầy lang giỏi, một thầy cúng có uy tín trong vùng. Ông có thể làm lễ cúng bằng chính tiếng H’Mông theo phong tục của đồng bào.
Xiêng Khoảng, mảnh đất ông chọn ở lại
Anh Việt Sơn Cường kể, năm 1984, khi đang làm nghiên cứu sinh tại Việt Nam, anh cùng anh rể là anh Chaleun Yiapaoher, khi ấy là Bí thư Trung ương Đoàn Thanh niên Nhân dân Cách mạng Lào, sau này là Phó Chủ tịch Quốc hội Lào, và một số người thân về Xiêng Khoảng thuyết phục cha lên Vientiane sống cùng các con để tiện chăm sóc lúc tuổi già. Sau hai ngày thuyết phục, ông đồng ý. Mọi người vui vẻ, đêm ấy, ai cũng yên tâm ngủ một giấc ngon. Nhưng sáng hôm sau, ông đổi ý. Ông nói rành rọt bằng tiếng Việt: “Ta sẽ không đi nữa. Ta ở đây thôi. Cách mạng bảo ta ở đâu thì ta sẽ ở đó.”
Mọi người thất vọng, nhưng rồi hiểu, với người chiến sĩ cách mạng, Xiêng Khoảng không chỉ là nơi để sống mà đó là nơi ông đã chiến đấu, nơi có những người đồng đội nằm lại; nơi gửi lại những năm tháng đẹp nhất của tuổi trẻ và cũng là nơi ông đã dựng nên một gia đình. Có những người đi qua một vùng đất như một nhiệm vụ, còn ông, ông ở lại bằng cả một đời người.
Sau khi nghỉ chế độ, ông tiếp tục tham gia xây dựng Đảng, chính quyền, vận động nhân dân thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước Lào. Trong đời thường, ông vẫn giữ phẩm chất của người cán bộ, gần gũi với bà con, chăm lo giáo dục con cháu và cũng không ai biết rằng ông từng là người lính Cụ Hồ, ông đã được Đảng, Nhà nước và Bộ Quốc phòng Việt Nam trao tặng nhiều huân, huy chương, nhiều phần thưởng cao quý, ghi nhận những đóng góp trong quá trình hoạt động cách mạng. Mấy chục năm qua, gia đình từng làm đơn gửi Tùy viên Quốc phòng Việt Nam tại Lào đề nghị ghi danh ông là chiến sĩ quân tình nguyện Việt Nam – một người đã cống hiến trọn đời cho cách mạng hai nước Việt Nam – Lào. Anh Việt Sơn Cường tâm sự: gia đình tha thiết mong tên ông được ghi vào danh sách những người lính tình nguyện Việt Nam đã cống hiến trọn đời cho cách mạng hai nước Việt Nam – Lào.
Hiện phần mộ ông nằm lại Nọng Hét, Xiêng Khoảng, nơi ông từng cống hiến cả tuổi thanh xuân.
Trước câu chuyện của cha, anh Singthong không chỉ tìm kiếm một sự vinh danh mà anh cần tìm lại một phần đời của người cha, hướng về cội nguồn đất Việt. Có lẽ đó cũng là lý do sau bao nhiêu năm, anh vẫn không thôi nhắc về quê cha – Vĩnh Lộc, Phùng Xá, Thạch Thất, Hà Nội.
Trong hành trình tìm kiếm, quy tập và xác định danh tính những người đã hy sinh cho Tổ quốc nhưng còn thiếu thông tin, mong muốn của gia đình càng trở nên day dứt, bởi phía sau mỗi cái tên là một cuộc đời. Ở một góc khuất nào đó của thời gian, người con Việt – Lào ấy vẫn lặng lẽ đi tìm.
Lang Quốc Khánh (Theo tư liệu gia đình và lời kể của anh Singthong Singhapannha (tức Việt Sơn Cường) – con trai ông Việt Sơn Hùng)
Nguồn tapchisonglam.vn
Ý kiến bạn đọc