Con đường ven đồi Đá Bạc hôm nay đã rộng rãi, bằng phẳng. Những hàng cây tỏa bóng mát theo năm tháng, buổi sáng từng tốp học sinh ríu rít đến trường, chiều về người dân thong thả chở nông sản ra chợ. Ít ai còn nhớ, có một thời nơi đây chỉ là lối mòn ngoằn ngoèo men theo sườn núi, một bên là đá dựng đứng, một bên là triền sông, mùa mưa trơn trượt, mùa nắng bụi mù. Mỗi bước đi đều là nỗi nhọc nhằn. Mỗi lần trở về quê, bước trên con đường ấy, tôi lại nhớ đến bố. Bố tôi, ông Nguyễn Xuân Vượng, thương binh, cựu chiến binh, nguyên Chủ tịch UBND xã Cương Gián, Nghi Xuân, Hà Tĩnh. Điều ông để lại không chỉ là một con đường, một cây cầu hay những hàng cây xanh mát, mà còn là ký ức đẹp trong lòng người dân về một người cán bộ suốt đời tận tụy vì dân.
Nhưng để có được cuộc đời ấy, bố đã đi qua một tuổi thơ mà mỗi lần nhắc lại, người nghe đều không khỏi nghẹn lòng.
Bố sinh ra trên vùng quê biển Cương Gián, nơi gió Lào khô khát gặp vị mặn của biển khơi. Những cánh buồm no gió, những chuyến ra khơi nối tiếp nhau, tiếng sóng ngày đêm vỗ vào bãi cát đã trở thành âm thanh quen thuộc của tuổi thơ ông.
Thế nhưng, tuổi thơ ấy, mới lên hai tuổi, bố mất mẹ. Đến năm bảy tuổi, người cha - chỗ dựa cuối cùng của cuộc đời - cũng vĩnh viễn không trở về sau một chuyến biển gặp bão.
Trong một thời gian rất ngắn, cậu bé Nguyễn Xuân Vượng trở thành trẻ mồ côi. Giữa cuộc đời mênh mông, cậu chỉ còn biết nương tựa vào người dì ghẻ. May mắn thay, người phụ nữ ấy không giống như câu ca xưa: "Mấy đời bánh đúc có xương, mấy đời dì ghẻ lại thương con chồng." Bà yêu thương, chăm sóc đứa trẻ bất hạnh bằng tất cả sự nhân hậu của mình. Nhưng cuộc sống quá khắc nghiệt. Một người đàn bà đơn chiếc không thể chống chọi mãi với đói nghèo, cuối cùng bà cũng phải đi bước nữa.
Năm ấy, bố tôi vừa tròn mười tuổi.
Đó là cái tuổi đáng lẽ được vô tư chạy chân trần trên bãi biển, được nép vào lòng cha mẹ sau mỗi cơn giông. Thay vào đó, cậu bé phải học cách tự đứng vững giữa cuộc đời.
Những năm ấy cũng là quãng thời gian đất nước chìm trong nạn đói. Miếng cơm trở thành điều xa xỉ với biết bao gia đình. Nhờ người cô họ thương tình, bố được gửi đến ở cho một gia đình khá giả trong vùng để trông trẻ, đổi lấy những bữa cơm qua ngày. Ban ngày làm việc quần quật. Đêm đến lại cặm cụi học chữ dưới ngọn đèn dầu leo lét. Không có ai kèm cặp, cũng chẳng có điều kiện học hành đầy đủ, nhưng cậu bé vẫn nâng niu từng cuốn sách, từng con chữ như một báu vật. Chính những đêm dài ấy đã nuôi dưỡng trong ông khát vọng vượt lên số phận.
Cũng từ những tháng ngày cơ cực ấy, tình yêu quê hương, đất nước lớn dần theo từng trải nghiệm. Chứng kiến cảnh người dân lầm than dưới ách thực dân, phong kiến, chàng trai trẻ sớm tìm đến lực lượng liên lạc của xã đội Cương Gián. Từ năm 1948 đến năm 1950, ông tham gia phát hoang, xây dựng trại vùng Song Nam, góp sức phục vụ kháng chiến. Những việc làm khi ấy tuy lặng lẽ nhưng đã đặt những viên gạch đầu tiên cho con đường cách mạng mà ông sẽ đi suốt cuộc đời.
Một buổi sáng, khi mặt trời còn chưa kịp nhô lên khỏi biển Cương Gián, chàng trai Nguyễn Xuân Vượng lặng lẽ rời quê. Không có cha mẹ tiễn đưa. Không có lời dặn dò bịn rịn, chỉ có tiếng sóng biển, tiếng gió lao xao qua rừng phi lao như lời tiễn biệt.
Ông lên đường trở thành thiếu sinh quân.
Đó là lần đầu tiên ông rời quê, cũng là lần đầu tiên bước vào cuộc đời của một người lính. Quân ngũ đã rèn giũa cậu bé mồ côi thành một thanh niên giàu bản lĩnh. Gian khổ không làm ông lùi bước mà càng hun đúc ý chí. Với sự nhanh nhẹn, tinh thần trách nhiệm và lòng quả cảm, năm 1951, ông được cử đi học lớp trinh sát tại Thừa Thiên Huế.
Sau khóa huấn luyện, ông về Sư đoàn 325, Trung đoàn 101, Tiểu đoàn 328, Đại đội 133.
Những năm tháng sau đó là chuỗi ngày hành quân, chiến đấu nối tiếp nhau. Ban đêm bám trận địa, ban ngày luyện tập, sẵn sàng cho những trận đánh mới. Cuối năm 1952, đơn vị hành quân ra Bắc, rồi tiếp tục tham gia các chiến dịch trên chiến trường Trung Lào và Hạ Lào. Từ cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp đến những năm tháng chống Mỹ cứu nước, người lính Nguyễn Xuân Vượng luôn có mặt ở những nơi gian khổ nhất.
Trong suốt cuộc đời quân ngũ, ông tham gia mười hai trận đánh lớn trên các chiến trường Việt Nam và nước bạn Lào. Ba lần bị thương giữa khói lửa chiến tranh, ba lần được đồng đội và nhân dân địa phương đưa về tuyến sau cứu chữa. Mỗi vết thương là một dấu tích của lòng quả cảm, nhưng cũng là minh chứng cho ý chí không khuất phục của người lính.
Ông chưa bao giờ kể nhiều về chiến công của mình.
Mỗi khi con cháu hỏi, bố chỉ cười hiền rồi nói: "Thời ấy ai cũng sống như thế thôi. Đồng đội của bố còn nhiều người nằm lại, mình được trở về đã là may mắn lắm rồi."
Câu nói giản dị ấy theo tôi suốt nhiều năm sau. Nó giúp tôi hiểu rằng, điều làm nên giá trị của một con người không phải là những tấm huân chương lấp lánh, mà là cách họ sống sau chiến tranh.
Và chính cuộc trở về của bố sau này mới thực sự mở ra chương đẹp nhất trong cuộc đời ông.
Người Thương binh trở về để dựng xây
Chiến tranh qua đi, người lính Nguyễn Xuân Vượng trở về quê hương không phải trong tiếng kèn chiến thắng hay những vòng tay đón đợi, mà ông trở về với thương tật trên mình.
Ba lần bị thương nơi chiến trường đã để lại những di chứng không thể xóa mờ. Hội đồng giám định kết luận sức khỏe không còn đủ điều kiện tiếp tục quân ngũ. Người lính năm nào buộc phải rời đơn vị, chia tay đồng đội để trở về nơi mình đã cất bước ra đi.
Ngày trở lại Cương Gián, quê hương vẫn nghèo như ngày ông lên đường.
Chiến tranh đã đi qua, nhưng những vết sẹo mà nó để lại còn hằn trên từng mái nhà, từng cánh đồng và trong cuộc sống của mỗi người dân.
Điều khiến ông day dứt nhất không phải là những vết thương trên cơ thể. Đó là việc mình không còn được đứng trong hàng ngũ chiến đấu cùng đồng đội. Nhưng rồi, ông nhanh chóng nhận ra rằng, đất nước hòa bình cũng cần những người lính. Chỉ khác, lần này, mặt trận không còn là chiến hào mà là công cuộc hàn gắn vết thương chiến tranh, dựng xây cuộc sống mới. Ông bắt đầu lại từ hai bàn tay trắng. Không nhà cửa. Không tài sản. Không một điều kiện thuận lợi nào. Những ngày đầu, ông phải nương nhờ nhà bà con, họ hàng. Người cựu binh từng băng rừng, vượt núi năm nào lại lặng lẽ bắt đầu cuộc đời mới bằng những công việc giản dị nhất. Ông được phân công làm công tác quân sự ở vùng Song Nam, Song Phượng. Có hôm chèo đò đưa cán bộ và nhân dân qua sông, lại có lúc làm thư ký đội sản xuất. Việc gì địa phương cần, ông đều nhận, không nề hà, Không so đo. Có lẽ, với ông, sau những năm tháng đối mặt với bom đạn, không còn công việc nào là nhỏ bé nếu nó có ích cho nhân dân.
Người dân Cương Gián vẫn nhớ hình ảnh người thương binh dáng người rắn rỏi, nước da sạm nắng, sáng sớm đã có mặt ở bến đò, chiều muộn vẫn cùng bà con xuống đồng. Ông làm việc bằng tất cả sự tận tụy của một người từng đi qua chiến tranh nên hiểu hơn ai hết giá trị của cuộc sống yên bình. Chính sự tận tâm ấy đã mang đến cho ông điều quý giá nhất. Đó là lòng tin của nhân dân.
Ngày 26 tháng 12 năm 1961 trở thành một dấu mốc thiêng liêng trong cuộc đời ông khi được đứng vào hàng ngũ của Đảng Cộng sản Việt Nam. Nhiều năm sau, mỗi lần nhắc lại ngày ấy, bố tôi vẫn nói với con cháu bằng niềm xúc động nguyên vẹn: Đó là ngày hạnh phúc nhất cuộc đời bố, Không phải vì chức vụ, Không phải vì danh hiệu, mà vì từ ngày ấy, ông thấy mình có thêm trách nhiệm phải sống xứng đáng hơn với những đồng đội đã nằm lại.
Đảng cũng nhìn thấy ở người thương binh ấy một phẩm chất đáng quý, năm 1967, ông được cử đi học Trường Trung cấp Chính trị của tỉnh. Một năm sau, tiếp tục theo học Trường Văn hóa tập trung. Đối với nhiều người, chuyện đi học là điều bình thường, nhưng với ông, người từng phải bỏ dở việc học từ thuở nhỏ vì đói nghèo và chiến tranh, mỗi trang sách đều là một cơ hội để bù đắp những năm tháng thất học. Ông học với sự say mê của một người khát chữ. Ông học để làm việc tốt hơn, để giúp dân tốt hơn, để xứng đáng với niềm tin mà tổ chức và nhân dân gửi gắm.
Sau khi hoàn thành chương trình đào tạo, ông lần lượt được giao nhiều trọng trách. Năm 1969, phụ trách xã đội Cương Gián. Năm 1970, giữ cương vị Phó Chủ tịch phụ trách mậu tài, đồng thời kiêm xã đội trưởng. Ở bất cứ vị trí nào, ông cũng giữ nguyên phong cách của một người lính. Nói ít, làm nhiều, việc gì cũng đi đầu.
Người dân trong xã vẫn truyền tai nhau rằng, muốn tìm ông Vượng thì đừng đến trụ sở trước, hãy ra đồng, ra công trường, bến sông thế nào cũng gặp.
Ông không quen ngồi sau bàn giấy.
Mỗi khi địa phương triển khai một công việc mới, người ta luôn thấy vị cán bộ ấy xắn quần lội ruộng cùng dân, vác đá cùng dân, đào mương cùng dân. Có lẽ chính vì thế mà khoảng cách giữa người cán bộ và người dân gần như không tồn tại. Ông hiểu từng hoàn cảnh, biết từng gia đình, nhớ từng con đường còn lầy lội, thuộc từng cánh đồng thiếu nước. Những điều ấy không có trong bất kỳ báo cáo nào, chỉ có thể có được khi người cán bộ thực sự sống giữa lòng nhân dân.
Đầu những năm 1970, phong trào xây dựng hợp tác xã nông nghiệp cấp cao được triển khai. Đây là chủ trương lớn nhưng việc vận động nhân dân không hề dễ dàng. Nhiều người còn băn khoăn, lo lắng, chưa thật sự đồng thuận. Ông không chọn cách áp đặt, cũng không dùng mệnh lệnh. Ông chọn cách đến từng nhà, ngồi trên chiếc chõng tre trước hiên, cùng uống bát nước chè xanh, lắng nghe người dân nói... Rồi kiên nhẫn giải thích. Có những gia đình ông đến không chỉ một lần. Sự chân thành cuối cùng cũng lay động lòng người. Chính cách làm ấy đã tạo nên sự đồng thuận, giúp phong trào từng bước đi vào cuộc sống. Đó cũng là lý do, khi địa phương cần tìm một người đủ uy tín để gánh vác trọng trách lớn hơn, hầu như mọi người đều nghĩ đến cùng một cái tên: Nguyễn Xuân Vượng.
Tháng Ba năm 1978, ông được Đảng bộ và nhân dân tín nhiệm bầu giữ cương vị Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã Cương Gián, đồng thời là Phó Bí thư Đảng ủy xã. Đó không chỉ là sự ghi nhận dành cho một cán bộ, mà còn là sự gửi gắm niềm tin của cả một vùng quê. Bởi người dân tin rằng, người thương binh từng vượt qua chiến tranh bằng ý chí kiên cường ấy sẽ tiếp tục đưa quê hương vượt qua đói nghèo bằng chính tinh thần ấy.
Và quả thực, mười năm sau đó đã trở thành quãng thời gian in đậm dấu ấn nhất trong cuộc đời làm cán bộ của ông.
Con đường của lòng dân
Sau chiến tranh, cái nghèo vẫn đeo bám vùng quê ven biển. Những cánh đồng còn manh mún, hệ thống thủy lợi thiếu thốn, trường học đơn sơ, đường sá chủ yếu là những lối mòn đất đá. Mỗi công trình được dựng lên đều là kết quả của biết bao ngày công, biết bao giọt mồ hôi của cán bộ và nhân dân. Giữa bộn bề công việc ấy, có một nỗi trăn trở chưa bao giờ nguôi trong lòng người Chủ tịch xã. Đó là con đường ven đồi Đá Bạc. Con đường nối từ thôn Song Nam qua Đại Đồng lên trung tâm xã khi ấy thực chất chỉ là một lối mòn nhỏ hẹp, len lỏi giữa núi đá và triền sông. Mùa nắng còn có thể gắng gượng đi qua, nhưng cứ mỗi mùa mưa đến, mặt đường nhão nhoét, trơn trượt, nhiều đoạn bị nước xói lở. Người già chống gậy dò từng bước. Phụ nữ gánh hàng phải cúi rạp người giữ thăng bằng. Trẻ nhỏ đến trường nhiều hôm lấm lem từ đầu đến chân. Điều khiến ông day dứt hơn cả là mỗi lần bà con cần lên xã làm giấy tờ. Có người đi từ tờ mờ sáng, đến nơi quần áo đã ướt đẫm vì mưa. Có cụ già vừa đi vừa nghỉ, có người vì nước lũ dâng mà phải quay về. Mỗi lần chứng kiến cảnh ấy, ông đều lặng người.
Một con đường, nghe thì đơn giản nhưng nếu không có đường, bao việc của dân đều trở nên gian nan. Trong một cuộc họp của xã, ông đứng dậy nói với anh em cán bộ: Không thể để bà con khổ mãi vì con đường này. Dù khó đến đâu cũng phải làm.
Nói là làm.
Nhưng làm đường thời ấy đâu có máy xúc, máy ủi hay kinh phí dồi dào, chỉ có sức người. Đá phải đục bằng tay, đất phải gánh bằng quang, xi măng, cát, sỏi đều vận chuyển bằng xe cải tiến hoặc đôi vai của bà con. Người Chủ tịch xã không đứng chỉ tay giao việc mà sáng nào ông cũng có mặt từ rất sớm cùng bà con xắn quần lội bùn, vác từng bao xi măng, cầm cuốc, cầm xà beng phá đá như một người thợ thực thụ.
Bà con nhiều lần bảo: Anh Chủ tịch để chúng tôi làm được rồi. Ông chỉ cười hiền: Việc của dân thì cán bộ phải làm trước. Có lẽ chính câu nói mộc mạc ấy đã khiến mọi người thêm quyết tâm. Ngày công nối ngày công. Những nhát cuốc nối những nhát cuốc. Con đường bắt đầu hiện rõ hình hài. Ai cũng tin rằng chỉ ít lâu nữa, bà con sẽ có một con đường mới.
Thế nhưng, thiên nhiên lại thử thách lòng người. Một trận mưa lớn kéo dài nhiều ngày. Nước từ thượng nguồn đổ về cuồn cuộn. Đến sáng hôm sau, một phần con đường và cây cầu tạm vừa dựng xong đã bị lũ cuốn phăng. Những đống đá ngổn ngang. Những cọc gỗ nằm chỏng chơ. Bao ngày công sức gần như tan theo dòng nước. Không khí công trường lặng đi. Có người ngồi thẫn thờ. Có người lắc đầu ngao ngán. Không ít người nghĩ rằng nên dừng lại. Ông lặng lẽ bước dọc đoạn đường vừa bị sạt lở rất lâu, sau mới quay lại nhìn mọi người. Giọng ông trầm nhưng dứt khoát: Đường có thể bị nước cuốn. Nhưng ý chí của mình thì không được để nước cuốn đi. Trôi thì mình làm lại. Câu nói ấy như tiếp thêm lửa cho mọi người. Ngay hôm sau, ông lại cùng cán bộ đi từng xóm vận động bà con. Nhà nhà lại góp ngày công, vật tư, vật liệu, ai có gì góp nấy. Riêng ông, lặng lẽ mang cả số tiền dành dụm của gia đình để mua thêm xi măng, sắt thép và những vật liệu còn thiếu.
Ông chưa bao giờ kể điều đó với ai, sau này, người thân mới biết.
Trong những ngày con đường còn dang dở, điều khiến nhiều người xúc động nhất lại không phải chuyện ông bỏ tiền, mà là một việc rất nhỏ. Bà con ở Song Nam muốn xin giấy khai sinh, giấy xác nhận hay bất kỳ thủ tục gì đều phải vượt quãng đường rất xa lên Ủy ban xã. Thấy dân đi lại quá vất vả, chiều nào tan làm ông cũng dặn: Ai có giấy tờ gì thì cứ mang đến nhà tôi, sáng mai tôi mang lên xã xin ký, chiều tối lại mang về cho. Thế là chiếc cặp của người Chủ tịch xã mỗi ngày lại đầy những tập hồ sơ của dân. Sáng mang đi, chiều mang về. Lặng lẽ, không một lời kể công. Ông bảo: Đường chưa xong thì mình chịu khó đi thay dân. Khi nào có đường rồi, bà con sẽ đỡ vất vả.
Có lẽ, chính những việc bình dị ấy đã khiến người dân quý ông hơn bất cứ lời nói hay nào. Nhiều tháng sau, con đường cuối cùng cũng hoàn thành. Ngày thông đường, không có băng rôn, không có lễ khánh thành, không có tiếng pháo, chỉ có nụ cười hân hoan của bà con khi lần đầu tiên đi trên con đường mới. Trẻ nhỏ đến trường không còn phải men theo vách đá. Người già không còn thấp thỏm mỗi mùa mưa. Những chuyến hàng ra đồng, ra chợ cũng thuận tiện hơn. Với ông, con đường ấy vẫn chưa thật sự hoàn thành, ông lại cùng bà con trồng những hàng cây hai bên đường. Ông bảo: Mình trồng cho con cháu sau này có bóng mát.
Năm tháng trôi đi. Những cây nhỏ ngày nào đã thành những tán xanh. Con đường đất năm xưa nay đã được bê tông hóa, xe cộ qua lại nhộn nhịp. Lớp trẻ lớn lên trên con đường ấy, nhiều người không còn biết ai là người khởi xướng.
Ông cũng chưa bao giờ nhắc đến.
Bởi điều ông mong muốn chưa từng là sự ghi nhớ, mà là được nhìn thấy quê hương đổi thay, có lẽ, đó cũng chính là cách một người lính tiếp tục cống hiến sau chiến tranh.
Ông không còn cầm súng mở đường ra trận, nhưng ông mở những con đường đi vào lòng dân.
Di sản của một cuộc đời
Có một điều lạ là, những người sống trọn đời vì người khác thường rất ít khi nói về mình. Bố tôi cũng vậy. Suốt những năm tháng làm cán bộ, hiếm khi ông kể với con cháu về những công việc mình đã làm. Những câu chuyện chiến trường, những lần vào sinh ra tử hay những năm tháng chèo đò, mở đường, vận động nhân dân... chỉ thỉnh thoảng được nhắc đến trong những buổi tối cả gia đình quây quần. Ông kể rất ít, kể như thể đó là bổn phận mà ai ở vào hoàn cảnh ấy cũng sẽ làm. Có lần tôi hỏi: Bố có tiếc điều gì không? Ông trầm ngâm rất lâu rồi mỉm cười: Không. Chỉ tiếc nhiều đồng đội của bố không được nhìn thấy đất nước thanh bình như hôm nay. Câu trả lời ngắn gọn ấy khiến tôi hiểu thêm về ông. Điều ông luôn mang theo suốt cuộc đời không phải là những chiến công, mà là ký ức về những người đã ngã xuống. Có lẽ vì thế mà khi còn sống, ông luôn sống chân thành và hết lòng với mọi người, như một cách để sống thay cả phần đời của những đồng đội không bao giờ trở về.
Vợ chồng Thương binh Nguyễn Xuân Vượng
Năm tháng lặng lẽ trôi đi. Người thương binh năm nào rồi cũng bước sang bên kia dốc cuộc đời. Một ngày, ông rời xa con cháu, rời xa mảnh đất Cương Gián mà ông đã dành cả tuổi trẻ để dựng xây. Ngày đưa tiễn ông, không có những lời lẽ hoa mỹ. Chỉ có rất đông bà con lặng lẽ đến thắp nén hương. Có những mái đầu đã bạc, có những người chống gậy. Có cả những người trẻ chỉ biết ông qua lời kể của cha mẹ. Họ đến không phải vì một chức danh đã thuộc về quá khứ, mà để tiễn biệt một con người suốt cuộc đời luôn xem việc của dân là việc của mình.
Sau này, mỗi lần trở về quê, tôi thường đi bộ trên con đường ven đồi Đá Bạc. Con đường giờ đã khác xưa rất nhiều. Mặt đường rộng hơn, xe cộ đông hơn. Những hàng cây bố và bà con năm nào trồng đã giao tán, tỏa bóng mát xuống từng bước chân người qua lại. Lũ trẻ tung tăng đến trường mà không hề biết rằng, dưới lớp bê tông phẳng phiu ấy là biết bao ngày công của cha ông chúng, những đôi vai từng gánh đá, cầm cuốc, là những giọt mồ hôi đã thấm vào từng tấc đất và có cả bước chân lặng lẽ của một người Chủ tịch xã chưa bao giờ đứng ngoài công việc của nhân dân.
Mỗi lần đứng dưới những hàng cây ấy, tôi lại có cảm giác như bố vẫn còn đâu đây. Có thể là trong tiếng gió lao xao trên tán lá, trong tiếng cười của lũ trẻ tan trường, hay trong những bước chân bình yên của bà con trên con đường năm cũ.
Ông không còn hiện diện bằng dáng hình, nhưng vẫn hiện diện trong những điều bình dị nhất của quê hương, đo là tình cảm của người dân quê dành cho một người cán bộ sống trọn nghĩa, vẹn tình. Với tôi, di sản vô giá ông để lại không từ quyền lực, không từ của cải, mà từ sự tử tế, lòng tận tụy và đức hy sinh của một con người suốt đời lấy nhân dân làm gốc.
Tháng Bảy lại về. Trên khắp mọi miền đất nước, những nén hương tri ân lại được thắp lên để tưởng nhớ các Anh hùng liệt sĩ, các thương binh, bệnh binh và những người đã hiến dâng tuổi xuân cho độc lập, tự do của Tổ quốc. Trong dòng người thành kính ấy, tôi trở về bên phần mộ của bố. Khói hương bảng lảng bay giữa khoảng trời quê. Gió từ biển Cương Gián vẫn mang theo vị mặn như thuở nào. Tôi đặt lên mộ bố một bó hoa, lặng lẽ thắp nén hương rồi ngước nhìn về phía con đường ven đồi Đá Bạc. Con đường vẫn ở đó, những hàng cây vẫn xanh, cuộc sống đỗi bình yên. Bố không chỉ mở một con đường qua đồi Đá Bạc, mà ông đã mở một con đường đi vào lòng dân.